Dịch vụ seo thông minh

Kinh nghiệm thành lập công ty cho thuê lại lao động tiếp

Thủ tục xin cấp giấy phép như sau:

    Giấy đăng ký doanh nghiệp, yêu cầu được cấp giấy phép thành lập công ty cho thuê lại lao động.
    Hộ chiếu, CMND, thẻ căn cước công dân và các loại giấy tờ chưng minh tư cách cá nhân, pháp nhân liên quan.
    Danh sách thông tin thành viên và cổ đông của doanh nghiệp cho thuê lại lao động
    Điều lệ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động.

III. Kinh nghiệm thành lập công ty cho thuê lại lao động thành công

Bên cạnh những kinh nghiệm trên thì để mở doanh nghiệp thành công thì bạn hãy lưu ý thêm một số kinh nghiệm thành lập công ty cho thuê lại lao động như sau:

1. Kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh dịch vụ cho thuê lại lao động

    Để có thể kinh doanh lĩnh vực cho thuê lại lao động thì doanh nghiệp cần thực hiện đăng ký ngành nghề kinh doanh cùng mã ngành phù hợp mới có thể tiến hành dịch vụ cho thuê lại lao động.
    Ngoài ra, nếu doanh nghiệp chọn ngành nghề yêu cầu vốn pháp định sẽ cần tuân thủ về mức vốn pháp định khi mở công ty.

2. Kinh nghiệm về việc góp vốn thành lập công ty

    Doanh nghiệp cho thuê lại lao động sau khi thành lập thì cần tiến hành góp vốn theo quy định trong vòng 90 ngày.

3. Kinh nghiệm về cách đặt tên công ty cho thuê lại lao động

    Công ty cho thuê lại lao động phải có tên riêng. Tên công ty không gây nhầm lẫn hay không trùng lặp với doanh nghiệp khác.

4. Kinh nghiệm đặt địa chỉ công ty cho thuê lại lao động

Dịch vụ seo thông minh

    Địa chỉ công ty cho thuê lại lao động phải là địa chỉ chính xác, tổn tại ở trong lãnh thổ Việt Nam. Không sử dụng chỉ giả, không được đặt địa chỉ công ty ở những khu vực hạn chế hoặc cấm đặt địa chỉ công ty như chung cư hay nhà tập thể.

5. Kinh nghiệm về lựa chọn người đại diện pháp luật

    Người đại diện phải là người có kinh nghiệm, năng lực để có thể chịu trách nhiệm đối với những hoạt động, công việc của công ty. Người đại diện pháp luật cho công ty cho thuê lại lao động có thể là giám đốc, chủ tịch, tổng giám đốc hoặc là người được thuê về làm đại diện pháp luật cho công ty. (Tham khảo chi tiết tại bài: Quy định về người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp).

6. Kinh nghiệm công bố thông tin công ty

    Doanh nghiệp cho thuê lại lao động thực hiện công bố thông tin đăng ký công ty lên cổng thông tin của quốc gia từ ngày có giấy phép kinh doanh. Thời gian thực hiện là không quá 30 ngày.

7. Kinh nghiệm về lựa chọn loại hình doanh nghiệp

    Tùy vào tính chất và yêu cầu của công ty cho thuê lại lao động, bạn hãy chọn ra loại hình công ty phù hợp nhất. Hiện nay có 4 loại hình doanh nghiệp phổ biến như công ty tư nhân, CT trách nhiệm hữu hạn, CT cổ phần và CT hợp danh.



8. Kinh nghiệm về mở tài khoản ngân hàng của công ty

    Người đại diện cho công ty hay chủ công ty cho thuê lại lao động mang , giấy phép đăng ký của công ty và con dấu công ty ra ngân hàng để mở tài khoản ngân hàng cho công ty.

9. Kinh nghiệm làm kế toán và thuê dịch vụ kế toán

    Nếu công ty cho thuê lại lao động chưa thuê được kế toán viên thì có thể thuê dịch vụ kế toán ở Nam Việt Luật để được hỗ trợ làm kế toán cho công ty trong giai đoạn ban đầu.

10. Kinh nghiệm khắc con dấu cho công ty

    Công ty cho thuê lại lao động sau khi có mã số thuế thì cần thực hiện khắc con dấu riêng của công ty theo như quy định. Mẫu dấu cũng cần công bố công khai trên trang thông tin quốc gia.

11. Kinh nghiệm về đóng thuế sau khi mở công ty cho thuê lại lao động

    Doanh nghiệp cần đóng những loại thuế như thuế môn bài, thuê thu nhập và thuế GTGT sau khi mở công ty.

12. Kinh nghiệm về đăng ký chữ ký số

    Công ty cho thuê lại lao động có thể đăng ký mua chữ ký số để tiến hành đóng thuế trực tuyến sau khi thành lập công ty.

1. Thực trạng về lao động cho thuê lại ở Việt Nam
Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động.

Dịch vụ seo thông minh




Vấn đề đặt ra là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định trên có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay trả lời trên thực tế nhận được ở Việt Nam trong thời gian qua không đồng nhất. Điều này thể hiện ở hai quan điểm dường như trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, quy định về hoạt động dịch vụ việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động. Những người theo quan điểm này còn dựa vào quy định về giao kết hợp đồng lao động tại Điều 30 Bộ luật Lao động Việt Nam để khẳng định chắc chắn rằng Việt Nam không chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động. Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định về hoạt động dịch việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam bao gồm cả hoạt động cho thuê lại lao động (bao gồm trong hoạt động cung ứng lao động). Những người theo quan điểm này còn cho rằng trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động không thấy có quy định cấm hoạt động cho thuê lại lao động và trên thực tế đăng ký kinh doanh ở một số địa phương, hoạt động này đã được chấp nhận trong “ngành nghề kinh doanh” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh (ví dụ: Hà Nội). Dư luận xã hội cũng chia làm hai luồng: ủng hộ và không ủng hộ hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam với những lý lẽ khác nhau

Theo các phương tiện thông tin đại chúng, dịch vụ cho thuê lao động đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001, điển hình phải kể đến các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Theo đó, một số doanh nghiệp (có giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm) ký hợp đồng lao động với người lao động, sau đó cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở “hợp đồng cung ứng lao động” hay “hợp đồng dịch vụ lao động” [3]. Hai xu hướng hoạt động nổi lên là: cho thuê lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và cho thuê lao động phổ thông. Trong đó, dịch vụ cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ hoặc hình thức tương tự là phổ biến hơn. Cũng theo phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động cho thuê lao động đã tồn tại từ lâu nhưng dường như đặt ngoài sự quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cho đến khi phát sinh một số vụ tranh chấp có liên quan hoặc các cơ quan, tổ chức hữu quan lên tiếng. Dưới góc nhìn của những doanh nghiệp cung ứng lao động (bên cho thuê lao động) và doanh nghiệp thuê lao động thì đây là một hoạt động phù hợp với tính linh hoạt của thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và người lao động và nhìn chung là mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, dưới cách nhìn của tổ chức đại diện người lao động (Công đoàn) cũng như của cơ quan quản lý nhà nước thì hoạt động này trong thời gian qua đã gây nhiều thiệt thòi cho người lao động cho thuê lại, như: người lao động cho thuê lại bị bớt xén tiền lương, không được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như không được hưởng các phúc lợi xã hội như những người lao động khác. Không ít các vụ tranh chấp lao động thời gian qua liên quan đến hoạt động cho thuê lao động đã minh chứng cho những lo ngại này.

Thái độ của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động đã rõ ràng về vấn đề này thông qua các công văn trả lời chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và một số Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho một số khu công nghiệp và doanh nghiệp. Tại Công văn số 3880/LĐTBXH ngày 01/10/2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Sài Gòn Nguyễn Gia, Công văn số 2891/LĐTBXH -LĐVL ngày 15/8/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Shell Việt Nam (Đồng Nai) về hợp đồng cung ứng dịch vụ lao động và một số công văn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai nhìn chung đều viện dẫn khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động để đi đến kết luận là dịch vụ lao động quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam không bao gồm hoạt động cho thuê lao động và hoạt động này trên thực tế đã vi phạm cách thức giao kết hợp đồng lao động và vi phạm pháp luật lao động Việt Nam [5], [7]. Từ thái độ này của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động khớp nối với thực tế đã có địa phương chấp nhận hoạt động cho thuê lao động trong nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp như đã đề cập (đoạn 4 bài viết này) đã gây ra phản ứng tiêu cực từ phía các doanh nghiệp là tại sao cùng một hoạt động mà địa phương này cho phép còn địa phương khác lại không cho phép? và không thể ngăn cản sự nghi ngờ về tính minh bạch của pháp luật cũng như tính minh bạch và công bằng trong công tác quản lý của nhà nước. Đúng là thực tế đó đã không thể phủ nhận sự thiếu tính liên thông cần thiết và sự không thống nhất trong hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng trong thời gian qua.
Một vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Trong tương lai, Việt Nam có nên chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động hay không? Và nếu có thì chấp nhận trong giới hạn nào?

Dịch vụ seo từ khóa



Câu trả lời tạm thời được thể hiện trong Dự án Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung của Việt Nam. Theo dự thảo 3 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung (ngày 08/2/2010) thì hoạt động cho thuê lại lao động sẽ được thừa nhận ở Việt Nam (khoản 4, 5 Điều 4; Mục V chương III, từ Điều 65 đến Điều 69). Những quy định trong dự thảo cho thấy các nhà lập pháp Việt Nam đang giữ quan điểm sẽ cho phép hoạt động cho thuê lại lao động nhưng coi đây là hoạt động có điều kiện. Theo đó, chỉ những doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định và được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động thì mới được tiến hành hoạt động này. Điều quan trọng là sẽ có danh mục các loại công việc được phép cho thuê lại lao động và việc cho thuê lại lao động chỉ được thực hiện với sự đồng ý của chính người lao động. Tuy nhiên, trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung chưa quy định cụ thể những điều kiện đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục các công việc được phép cho thuê lại lao động. Cụ thể hóa những nội dung này thuộc trách nhiệm của Chính phủ trong quá trình tổ chức thực hiện Bộ luật thể hiện trong Nghị định hướng dẫn thi hành. Qua việc trưng cầu ý kiến toàn dân cho thấy vẫn đang tiếp tục tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau, trong đó ủng hộ cho hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo cũng nhiều, phản đối hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo quy định cũng không ít.


© 2007 - 2021 http://hopthuchoa.kinhdoanhdocu.com
- Phone: +84-908-744-256